
24Th5
CẤP DƯỠNG LÀ GÌ? CHỦ THỂ NÀO CÓ NGHĨA VỤ CẤP DƯỠNG? TỪ CHỐI HOẶC TRỐN TRÁNH NGHĨA VỤ CẤP DƯỠNG BỊ XỬ LÝ NHƯ THẾ NÀO?
Gia đình là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách con người, là tập hợp đặc biệt của một số thành viên nhỏ trong xã hội được gắn bó với nhau do quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng. Tuy nhiên, cùng với sự thúc đẩy của xã hội, một số thành viên trong gia đình đã có sự xuống cấp về mặt đạo đức, vi phạm đến quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, trong đó có quy định về cấp dưỡng. Vậy, cấp dưỡng là gì? Từ chối hoặc trốn tránh cấp dưỡng bị xử lý như thế nào? Hãy cùng Luật Huy Hoàng tìm hiểu vấn đề pháp lý trên qua bài viết sau:
1. Cấp dưỡng là gì?
Khoản 24 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:
Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác; để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình; mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu.
Nghĩa vụ cấp dưỡng
Theo Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng như sau:
“Điều 107. Nghĩa vụ cấp dưỡng
1. Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này.
Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.
2. Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng trốn tránh nghĩa vụ thì theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 119 của Luật này, Tòa án buộc người đó phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật này.”
Theo đó, nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa những người thân thích trong phạm vi 3 đời khi họ không sống chung với nhau hoặc họ có nghĩa vụ phải cấp dưỡng theo bản án, quyết định của Tòa án.
Từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng được hiểu là hành vi của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng; nhưng cố ý không chấp nhận thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; hoặc lẩn tránh để không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật
2. Từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng có bị xử phạt không?
Vi phạm quy định về chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng căn cứ tại Điều 57 Nghị định 144/2021/NĐ-CP trong trường hợp nhẹ sẽ bị xử lý như sau:
“- Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
+ Từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau khi ly hôn; từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ nuôi dưỡng giữa anh, chị, em với nhau, giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu theo quy định của pháp luật;
+ Từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, nuôi dưỡng cha, mẹ; nghĩa vụ cấp dưỡng, chăm sóc con sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật.
– Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc thực hiện nghĩa vụ đóng góp, nuôi dưỡng theo quy định đối với các hành vi quy định về chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng.”
Điều 57 Nghị định 144/2021/NĐ-CP đã quy định rõ người nào từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau khi ly hôn; giữa anh, chị, em với nhau, giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu…Hoặc từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, nuôi dưỡng cha, mẹ; nghĩa vụ cấp dưỡng, chăm sóc con sau khi ly hôn thì sẽ bị phạt tiền từ 5-10 triệu đồng.
Ngoài bị phạt tiền người vi phạm còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc thực hiện nghĩa vụ đóng góp, nuôi dưỡng.
Bên cạnh đó, từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng có thể bị xử lý theo quy định tại Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 (sau đây gọi tắt là BLHS 2015), cụ thể
“Điều 186. Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng
“Người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật mà từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này mà còn vi phạm, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 380 của Bộ luật này, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.”
3. Cấu thành tội phạm tội Từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng
Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ được coi là tội phạm được quy định tại Điều 186 BLHS 2015 khi thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm. Cụ thể:
a. Khách thể của tội phạm
Từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng xâm phạm đến quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng của con người.
Khách thể của tội danh này là quan hệ gia đình, là quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng của con người và các quy phạm pháp luật về quan hệ cấp dưỡng.
b. Mặt khách quan của tội phạm
Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng. Theo đó, nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện như sau:
– Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.
– Con đã thành niên không sống chung với cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha, mẹ trong trường hợp cha, mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
– Trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để cấp dưỡng cho con thì anh, chị đã thành niên không sống chung với em có nghĩa vụ cấp dưỡng cho em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; em đã thành niên không sống chung với anh, chị có nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh, chị không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
– Ông bà nội, ông bà ngoại không sống chung với cháu có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người cấp dưỡng là anh, chị,em.
– Cháu đã thành niên không sống chung với ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ cấp dưỡng cho ông bà nội, ông bà ngoại trong trường hợp ông bà không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng theo quy định.
– Cô, dì, chú, cậu, bác ruột không sống chung với cháu ruột có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người khác cấp dưỡng.
– Cháu đã thành niên không sống chung với cô, dì, chú, cậu, bác ruột có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cô, dì, chú, cậu, bác ruột trong trường hợp người cần được cấp dưỡng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người khác cấp dưỡng.
Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm là hành vi từ chối hoặc hành vi trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng.
Từ chối nghĩa vụ cấp dưỡng là có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật và có khả năng cấp dưỡng nhưng khước từ (không chịu nhận) việc cấp dưỡng khi người được cấp dưỡng theo quy định của pháp luật yêu cầu cấp dưỡng hoặc đã có quyết định của Toà án buộc phải cấp dưỡng nhưng không cấp dưỡng.
Trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng là có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật và có khả năng cấp dưỡng nhưng tìm mọi cách trốn tránh việc cấp dưỡng (bỏ trốn, giấu địa chỉ, cố tình dây dưa việc cấp dưỡng), khi người được cấp dưỡng yêu cầu hoặc đã có quyết định của Toà án buộc phải cấp dưỡng nhưng vẫn không cấp dưỡng.
Mặc dù từ chối và trốn tránh là hai khái niệm khác nhau, nhưng đều có chung một nội dung là không thực hiện nghĩa vụ.
Người được cấp dưỡng theo quy định của pháp luật nhưng có khả năng tự bảo đảm cuộc sống, có tài sản riêng, không cần cấp dưỡng mà người có nghĩa vụ cấp dưỡng không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cũng không bị coi là tội phạm. Nói cách khác người phạm tội có khả năng và có nghĩa vụ cấp dưỡng nhưng từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe mới bị coi là phạm tội.
Trường hợp khác, nếu người phạm tội có khả năng và có nghĩa vụ cấp dưỡng nhưng từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng tuy không làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính thì cũng bị coi là phạm tội. Nếu trước đó người phạm tội tuy có bị xử lý hành chính, nhưng về hành vi khác không phải là hành vi từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng thì cũng không cấu thành tội phạm này.
Hậu quả của tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng là làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe. Hậu quả của tội phạm này vừa là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm vừa không phải là dấu hiệu bắt buộc. Nếu người phạm tội đã bị xử phạt hành chính thì hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc, nhưng nếu người phạm tội chưa bị xử phạt hành chính thì hậu quả làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe là dấu hiệu bắt buộc.
c. Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm là người từ đủ 16 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Đồng thời, chủ thể của tội phạm này phải là người có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng trừ trường hợp quy định tại Điều 380 BLHS 2015.
Nếu chủ thể là người có nghĩa vụ cấp dưỡng nhưng không có khả năng nên không thực hiện nghĩa vụ thì không phải là hành vi phạm tội.
d. Mặt chủ quan của tội phạm
Người phạm tội thực hiện hành vi từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng với ỗi cố ý. Tức là, người phạm tội nhận thức rõ mình có nghĩa vụ cấp dưỡng nhưng cố tình từ chối hoặc trốn tránh không thực hiện việc cấp dưỡng.
*Hình phạt:
Trên đây là bài tư vấn của LUẬT HUY HOÀNG về tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng. Hy vọng bài viết mang đến thông tin bổ ích cho quý khách hàng. Mọi thắc mắc cần giải đáp vui lòng liên hệ chúng tôi
Dịch vụ pháp lý Luật Huy Hoàng
Với đội ngũ luật sư giỏi, giàu kinh nghiêm, LUẬT HUY HOÀNG tự hào là đơn vị cung cấp dịch vụ pháp lý uy tín, tận tâm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.
+Tư vấn hồ sơ vụ án, đánh giá tính chất hành vi vi phạm và đưa ra định hướng giải quyết
+Cùng khách hàng làm việc với cơ quan nhà nước, Tòa án khi có yêu cầu
+Hỗ trợ soạn thảo văn bản, đơn từ, thay mặt khách hàng tranh tụng tại Tòa án, …
Cùng nhiều dịch vụ pháp lý khác.
Mọi thắc mắc cần giải đáp hoặc muốn trải nghiệm dịch vụ pháp lý vui lòng liên hệ chúng tôi theo thông tin sau:
