Đóng

Hình sự

01Th6

TỘI MUA BÁN NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI ĐIỀU 151 BLHS 2015

Hiện nay, trên lãnh thổ Việt Nam, tình hình tội phạm đang diễn ra hết sức phức tạp, một trong số đó có tội mua bán người dưới 16 tuổi. Thực tế, đối tượng bị mua bán chủ yếu là phụ nữ và trẻ em. Trẻ em được nhà nước ưu tiên nhiều hơn không chỉ bởi đây là nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội mà còn là tương lai của đất nước. Vậy pháp luật hình sự quy định tội danh này như thế nào? Hình phạt đối với tội danh này là gì? Hãy cùng Luật Huy Hoàng làm rõ qua bài viết dưới đây.

1. Mua bán người dưới 16 tuổi là gì?

Tội mua bán người dưới 16 tuổi là hành vi:

+ Chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo;

+ Chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

+Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người dưới 16 tuổi để thực hiện những hành vi quy định trên.

Quy định của pháp luật về tội mua bán người dưới 16 tuổi

Tội mua bán người dưới 16 tuổi được quy định chi tiết tại Điều 151 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung 2017 (sau đây gọi tắt là BLHS 2015), cụ thể:

Điều 151. Tội mua bán người dưới 16 tuổi

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

a) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo;

b) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

c) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người dưới 16 tuổi để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

b) Lợi dụng hoạt động cho, nhận con nuôi để phạm tội;

c) Đối với từ 02 người đến 05 người;

d) Đối với người mà mình có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng;

đ) Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

e) Phạm tội 02 lần trở lên;

g) Vì động cơ đê hèn;

h) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm d khoản 3 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

d) Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

đ) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát;

e) Đối với 06 người trở lên;

g) Tái phạm nguy hiểm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

2. Cấu thành tội phạm tội mua bán người dưới 16 tuổi

Khách thể của tội phạm

Tội phạm xâm phạm đến quan hệ về quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng và sống chung với cha mẹ, quyền được bảo vệ của người dưới 16 tuổi, gián tiếp xâm phạm tới tính mạng của người dưới 16 tuổi.

Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm là người từ đủ 14 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự

Mặt chủ quan của tội phạm

Tội phạm thực hiện hành vi với lỗi cố ý.

Động cơ thực hiện hành vi mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt nêu trên không phải là dấu hiệu cấu thành cơ bản mà chỉ có ý nghĩa trong việc định khung tăng nặng, lượng hình.

Mục đích phạm tội: nhằm thu lợi bất chính.

Mặt khách quan của tội phạm

Có hành vi dùng tiền hoặc phương tiện thanh toán khác như vàng, ngoại tệ… để trao đổi mua bán người dưới 16 tuổi như hàng hóa nhằm thu lợi bất chính (tư lợi)

Có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác thực hiện một trong các hành vi sau đây:

+ Chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác

+ Chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác

+ Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện các hành vi nêu trên

Nạn nhân của tội phạm này phải là người dưới 16 tuổi trở xuống.

Hậu quả không có ý nghĩa nhiều trong việc xác định tội danh, tuy nhiên hậu quả góp phần hết sức quan trọng trong việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi

Tội mua bán người dưới 16 tuổi được coi là hoàn thành khi người phạm tội đã thực hiện xong các hành vi mua bán, khi đó nhân phẩm của người dưới 16 tuổi đã bị xâm hại. Nếu việc mua bán người chưa xảy ra thì được coi là phạm tội chưa đạt.

3. Hình phạt đối với tội mua bán người dưới 16 tuổi

Mức hình phạt của tội mua bán người dưới 16 tuổi được quy định tại Điều 151 Bộ luật hình sự năm 2015 này được chia thành hai khung, cụ thể như sau:

Mức hình phạt tại khoản 1 Điều 151 Bộ luật hình sự: Có mức phạt tù từ ba năm đến mười năm. Được áp dụng đối với trường hợp phạm tội có đủ các dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này nêu ở mặt khách quan.

Mức hình phạt tại khoản 2 Điều 151 Bộ luật hình sự: Có mức phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân. Được áp dụng đối với một trong các trường hợp phạm tội sau đây:

+ Có tổ chức. Được hiểu là có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người (đồng phạm) cùng thực hiện tội phạm này.

+ Có tính chất chuyên nghiệp. Được hiểu là người phạm tội sinh sông chủ yếu dựa vào thu nhập từ việc mua bán trẻ em một cách thường xuyên.

+ Vì động cơ đê hèn (như để trả thù cha mẹ đứa trẻ).

+ Đối với nhiều trẻ em (từ hai trẻ em trở lên)

+ Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân.

+ Để đưa ra nước ngoài;

+ Để sử dụng vào mục đích vô nhân đạo (như sử dụng để bóc lột sức lao động, cho đi ăn xin…)

+ Để sử dụng vào mục đích mại dâm.

+ Tái phạm nguy hiểm (xem giải thích tương tự ở tội giết người).

+ Gây hậu quả nghiêm trọng (như làm cho trẻ em bị tàn tật suốt đời…)

Mức hình phạt tại khoản 3 Điều 151 Bộ luật hình sự: Hình phạt bổ sung (khoản 3)

Ngoài việc bị áp dụng một trong các hình phạt chính nêu trên, tuỳ từng trường hợp cụ thể người phạm tội còn có thể bị:

+ Phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng.

+ Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

4. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự với tội mua bán người dưới 16 tuổi

Căn cứ quy định tại Điều 27 BLHS 2015 về Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự :

“1. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

2. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

a) 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng;

b) 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng;

c) 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng;

d) 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

3. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà Bộ luật này quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 01 năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.

Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ.”

Và Điều 9 Bộ luật Hình sự 2015 về phân loại tội phạm

“1. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành 04 loại sau đây:

a) Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;

b) Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù;

c) Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù;

d) Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

2. Tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện được phân loại căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều này và quy định tương ứng đối với các tội phạm được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này.”

Kết hợp Điều 151 BLHS 2015 về tội mua bán người dưới 16 tuổi.

Từ những căn cứ pháp lý trên có thể xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội mua bán người dưới 16 tuổi như sau:

Đối với Khoản 1 Điều 151 BLHS 2015, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hinh sự là 15 năm

Đối với khoản 2, khoản 3 Điều 151 BLHS 2015, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là 20 năm.

Trên đây là bài tư vấn của LUẬT HUY HOÀNG về tội mua bán người dưới 16 tuổi. Hy vọng bài viết mang đến thông tin bổ ích cho quý khách hàng. Mọi thắc mắc cần giải đáp vui lòng liên hệ chúng tôi

5. Dịch vụ pháp lý Luật Huy Hoàng

Với đội ngũ luật sư giỏi, giàu kinh nghiêm, LUẬT HUY HOÀNG tự hào là đơn vị cung cấp dịch vụ pháp lý uy tín, tận tâm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.

Tư vấn hồ sơ vụ án, đánh giá tính chất hành vi vi phạm và đưa ra định hướng giải quyết

Cùng khách hàng làm việc với cơ quan nhà nước, Tòa án khi có yêu cầu

Hỗ trợ soạn thảo văn bản, đơn từ, thay mặt khách hàng tranh tụng tại Tòa án, …

Cùng nhiều dịch vụ pháp lý khác.

Mọi thắc mắc cần giải đáp hoặc muốn trải nghiệm dịch vụ pháp lý vui lòng liên hệ chúng tôi theo thông tin sau:

LUẬT HUY HOÀNG
📞 Điện thoại: 0944580222
📧 Email: tuvan@luathuyhoang.vn
🌐 Website: https://luathuyhoang.vn/
🏘️ Địa chỉ:  Tầng 2, LK05 – Khu đô thị 54, ngõ 85 Hạ Đình, phường Thanh Xuân Trung, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội